Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

Vừng đen trộn mật ong chữa viêm đại tràng

Hạt vừng còn gọi là hạt mè, dầu mè có vị ngọt, tính hàn không độc, có công hiệu giải độc, tiêu nhiệt, sát trùng... Dưới đây là một số bài thuốc từ hạt vừng.
Trị chứng thương hàn: Nếu bị chứng thương hàn, da vàng thì lấy hạt vừng đen còn tươi giã nát, ép lấy 1 tách dầu cho thêm nửa tách nước và một lòng trắng trứng gà, khuấy đều tất cả rồi uống 1 lần/ngày, uống khoảng 3 - 4 lần là khỏi.
Trị chứng rụng tóc: Lấy 1 bát con hạt vừng đen sao chín tán nhuyễn cho thêm đường vào nấu uống, tóc sẽ hết rụng và đen mượt.
Trị chứng đầy bụng: Lấy một bát hạt vừng đen, nấu như nấu cháo, khi gần được cho vào ít muối và một miếng vỏ quýt thái nhỏ, múc ra bát để nguội ăn rất hiệu nghiệm.
 
Trị kiết lỵ kinh niên: Lấy một vốc hạt vừng giã nhỏ, nấu chín rồi pha vào 1 thìa cà phê mật ong. Mỗi ngày uống 2 lần như thế, uống liên tục trong vài ngày là khỏi.
Trị chứng viêm đại tràng mạn tính: Lấy hạt vừng đen sao có mùi thơm, mỗi lần dùng 1 thìa nhỏ trộn với 1/4 thìa mật ong trộn đều uống, ngày uống 2 lần và liên tục khoảng 1 tháng thì khỏi.
Trị lang ben trắng: Lấy 1 chén nhỏ dầu vừng hòa với rượu uống mỗi ngày 3 lần, uống liên tục đến khi khỏi. Trong khi uống thuốc kiêng đồ lạnh, sống, thịt gà, thịt lợn, tỏi.
Trị tai ù: Tự nhiên tai bị hơi ù đi rồi điếc thì lấy dầu mè nhỏ vào tai vài giọt, ngày nhỏ 2 - 3 lần khoảng 1 tuần có hiệu nghiệm
Trị táo bón: Lấy một chén uống nước dầu vừng uống vào buổi sáng hoặc nhai 2 nắm hạt vừng đen hoặc trắng rất công hiệu.

Hoa ngọc lan trị ho

Theo Đông y, hoa ngọc lan có tính hơi ấm, vị đắng, cay, có tác dụng trị các chứng ho, tiểu khó, đầy hơi, buồn nôn, sốt, tăng huyết áp... Bộ phận dùng làm thuốc là nụ hoa ngọc lan khi còn chưa nở, thu hái, phơi trong bóng râm đến khô, bảo quản dùng dần
Dưới đây là một số phương trị bệnh từ hoa ngọc lan.
Chữa trị ho:Hoa ngọc lan 30g, mật ong 40g, cho cả hai thứ vào bát, hấp cách thủy khoảng 20 – 30 phút sau mang ra để ăn.
Chống ho làm long đờm, lợi tiểu tiện: Hoa ngọc lan 15g, hải triết bì 2 mảnh, 1 quả dưa hồng, 1 củ cà rốt, 5 củ tỏi, 15ml dấm trắng, 5ml dầu thơm, 1 thìa xì dầu, 1 thìa đường. Hoa ngọc lan rửa sạch, bóc cánh thái nhỏ. Hải triết bì ngâm, rửa sạch, khử mùi tanh. Dưa rửa sạch, bỏ cuống rồi thái nhỏ. Cà rốt cạo vỏ, thái nhỏ. Trộn các nguyên liệu trên, thêm gia vị, rồi để hoa ngọc lan đã thái nhỏ lên trên, đổ nước đủ dùng, sắc uống ngày 1 thang.
 Hoa ngọc lan.
Chữa chứng ho, sưng đau yết hầu:
 Lấy 20g hoa ngọc lan khô đem tẩm với mật ong trong 3 ngày rồi hãm uống như trà. Bài thuốc này có tác dụng chữa chứng ho do nhiễm lạnh, đau đầu, hoa mắt, tức ngực.
Chữa ho gà: Ngọc lan hoa trắng 8 cái, lá chanh 10g, gừng 3g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Uống 5 ngày liền.
Chữa viêm phế quản: Ngọc lan hoa trắng 7 hoa, hoa hồng bạch 5 hoa, mật ong 15ml. Tất cả cho vào bát hấp cách thủy, chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3 – 5 ngày.
Làm nhuận da, kích thích tiêu hóa: 6g hoa ngọc lan, 1 thìa trà xanh. Hoa ngọc lan rửa sạch bằng nước muối, vẩy cho ráo nước, để vào bát. Rót nước sôi vào bát, sau đó cho trà xanh vào. Hãm uống thay trà trong ngày.
Cải thiện thống kinh: Dùng 10g hoa ngọc lan chưa nở sắc uống thay trà vào buổi sáng. Một liệu trình là 30 ngày.

Lá lốt chữa mồ hôi chân tay và viêm âm đạo

Sự phiền toái do ra nhiều mồ hôi ở tay chân sẽ giảm đáng kể nếu bạn thường xuyên ngâm chân tay bằng nước lá lốt.
Trị bệnh kiết lỵ: Lấy một nắm lá lốt sắc với 300 ml nước, chia uống trong ngày.

Trị bệnh tổ đỉa ở bàn tay: Lấy một nắm lá lốt, rửa sạch, giã nát, chắt lấy nước cốt, uống hết một lần, còn bã cho vào nồi, đổ ba bát nước đun sôi kỹ. Vớt bã để riêng, dùng nước thuốc lúc còn ấm rửa vùng tổ đỉa, lau khô rồi lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1 - 2 lần, liên tục 5 - 7 ngày sẽ khỏi.


Trị chứng tay chân đổ mồ hôi gây khó chịu: Lấy 30 gr lá lốt tươi, đổ một lít nước vào đun sôi, cho thêm ít muối. Để nước ấm ngâm tay chân vào. Làm thường xuyên ngày một lần trước khi đi ngủ, sẽ có kết quả tốt.

Trị chứng đau nhức xương khớp: Lấy 20 gr lá lốt, 12 gr thiên niên kiện, 16 gr gai tầm xoang, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, chia uống trong ngày. Uống liền trong một tuần.

Hoặc lấy 15 gr lá lốt, 15 gr rễ cây vòi voi, 15 gr rễ cây cỏ xước, 15 gr rễ cây bưởi, thái mỏng, sao vàng. Sắc với 600 ml nước còn 200 ml, uống ba lần trong ngày. Uống liền trong một tuần. Hoặc lấy 5 - 10 lá lốt phơi khô hay 15 - 30 gr lá lốt tươi, sắc kỹ với nước, chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Uống liền một tuần.



Trị viêm nhiễm âm đạo, ngứa, ra nhiều khí hư: Lấy 50 gr lá lốt, 40 gr nghệ, 20 gr phèn chua, đổ nước ngập thuốc khoảng hai đốt ngón tay, đun sôi thì bớt lửa sôi liu riu khoảng 10 - 15 phút rồi chắt lấy một bát nước, để lắng trong, dùng rửa âm đạo. Số thuốc còn lại đun sôi để xông hơi vào âm đạo, rất hiệu nghiệm

Nước quả lựu chống được ung thư

Các nhà nghiên cứu Mỹ vừa phân lập được thành phần trong nước quả lựu có thể khiến khối u ngừng di căn.
Nhóm nghiên cứu từ Đại học Riverside (bang California) đã dùng nước quả lựu cho các tế bào ung thư tuyến tiền liệt nuôi trong phòng thí nghiệm (các tế bào này vốn đã không đáp ứng với testosterone).
Trước đó, người ta đã biết rằng những tế bào càng ít đáp ứng với testosterone, thì xu hướng di căn càng lớn.
Trong thí nghiệm, nhóm nghiên cứu nhận thấy những tế bào ung thư được "trị" bằng nước quả lựu tuy không chết, song đã giảm độ hung hăng (đồng nghĩa với việc ít tế bào lành bị xâm hại), và bớt di chuyển.
Tiếp đó, họ xác định được thành phần chính ngăn ngừa ung thư trong quả lựu.
"Bằng việc phân lập này, chúng tôi có thể cải tiến chức năng của hoạt chất đó và khiến nó hiệu quả hơn trong việc ngăn ngừa khối ung thư tuyến tiền liệt di căn, dẫn đến việc hóa trị hiệu quả hơn" - Trưởng nhóm nghiên cứu Manuela Martins-Green cho biết.
Từ đây, nghiên cứu mở ra triển vọng có thể tìm ra thành phần tương tự trong những loại quả khác, và mở rộng phổ điều trị trên nhiều dạng ung thư.

Dùng mật ong chữa ho với liều lượng thế nào?

Tôi nghe nói dùng mật ong chữa ho, viêm họng rất hiệu quả không chỉ cho người lớn mà cả trẻ con, thế nhưng tôi không biết liều lượng dùng mật ong để chữa các bệnh trên như thế nào là hợp lý? (Lan Hương, Gò Vấp, TP.HCM)
Trả lời:
Thành phần mật ong chủ yếu là các chất đường gồm fructozơ 35%, glucozơ 35%, saccharozơ 7%, dextrin 3-4% và rất nhiều loại axit, enzym, vitamin…

Từ thời cổ xưa, con người đã biết dùng mật ong để chữa các bệnh về phổi. Mật ong có tác dụng bổ toàn thân nên có thể giúp cơ thể chống lại nhiễm lao, liều dùng: 20-50g/ngày, với liều lượng này cũng có thể dùng trị suy nhược thần kinh, ho khan, viêm họng. Nếu chữa táo bón thường dùng liều cao hơn: 100-150g mỗi ngày.
Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, kinh nghiệm dùng mật ong hiệu quả nhất là vào mỗi sáng lúc trẻ thức dậy, sau khi dùng gạc nhúng nước sôi để nguội, rửa miệng sạch sẽ cho trẻ, hãy chấm một chút mật ong vào miệng để trẻ nuốt dần. Làm theo cách này có thể giúp trẻ tiêu đờm, không bị khò khè và phòng tránh được táo bón. Nếu ngày nào cũng làm tương tự có thể giúp chữa nấm miệng cho trẻ.

Dùng giấm điều trị gầu

Để thoát khỏi sự khó chịu do gầu gây ra, bạn có thể lấy 150 g giấm ăn lâu năm pha đều với 1 lít nước ấm, mỗi ngày gội đầu 1 lần.
Phương pháp này cũng có tác dụng phần nào đối với những người bị rụng tóc và giúp giảm bớt hiện tượng tóc bị chẻ.
 
Sau đây là 2 cách trị gầu khác rất dễ thực hiện, chỉ cần một ít muối, phèn chua và hành củ:
 
- Hòa muối và phèn chua vào một lượng nước vừa đủ dùng để gội đầu. Cách này sẽ giúp da đầu bớt ngứa và làm giảm gầu đáng kể.
 
- Hành củ băm nát, bọc vào vải màn, đập nhẹ lên trên tóc cho đến khi nước hành ngấm đều trên da đầu và tóc.
 
Gội sạch đầu sau vài giờ. Cách này có hiệu quả trị gầu rất cao.

Linh chi - Vị thuốc quý

Nấm linh chi là một trong những vị thuốc quý của y học cổ truyền. Ở nước ta, trong những năm gần đây, linh chi đã được người ta biết đến và sử dụng ngày càng nhiều. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh có dùng linh chi
Bổ khí hoạt huyết dùng ở trường hợp đau tim do khí hư, huyết tụ: Linh chi 60g, nhân sâm 30g, đan sâm 90g. Tất cả tán bột. Mỗi lần 3g. Ngày 2 lần hoà nước nóng hoặc sữa, nước cơm (đau ê ẩm vùng ngực trước tim, hồi hộp, tim khó thở).
 Nấm linh chi.
Dưỡng khí bổ âm hoạt huyết, trị bệnh đau tim do khí âm hư và tụ máu:
tây dương sâm 30g, linh chi 60-90g, tam thất 30g, đan sâm 45. Đem 4 vị thuốc trên rửa sạch, sao khô, nghiền thành bột, bỏ vào lọ đậy kín để dùng dần. Mỗi lần uống với nước ấm.
Bệnh viêm gan do can thận đều hư: Linh chi 10-12g, nữ trinh tử 15g, màng mề gà 9g. Cho nước vào sắc, nước sôi 60 phút, gạn lấy nước uống. Ngày 1 thang chia 2 lần (sáng, chiều), uống nóng.
Viêm gan cấp, mạn: Nấm linh chi rang sấy khô tán bột. Mỗi lần uống 3g, chiêu với nước trà hoa cúc.
Suy nhược thần kinh, ăn ngủ kém: Linh chi 100g thái nhỏ ngâm vào 500ml rượu trắng sau 7 ngày uống được. Ngày uống vào 2 bữa cơm, mỗi lần 15-20ml.
Viêm khí phế quản, ho gà, hen suyễn: Linh chi 10g, bách hợp 10g, trần bì 8g. Sắc kỹ uống thay nước trong ngày.
Bổ khí huyết tỳ vị, tiêu viêm giảm đau, chữa ung bướu: Linh chi 30g, tây dương sâm 30g, thạch hộc 30g, hoài sơn 30g, mộc nhĩ trắng 30g, nấm hương 30g. Tất cả tán thành bột. Mỗi lần uống 2 - 3g. Ngày uống 1-2 lần hoà với nước nóng, hoặc sữa, hoặc nước cơm đủ nhuyễn để dễ nuốt

Món ăn dành cho người bệnh xơ gan

Xơ gan là bệnh gan mạn tính có nguyên nhân do tác động lâu dài hoặc lặp lại của một hay nhiều nguyên nhân gây ra thương tổn gan trên diện rộng. Do bị hoại tử trên diện rộng, tế bào gan khó có thể tái sinh nên gan dần dần bị xơ.
Biểu hiện: người bệnh chán ăn, người mệt mỏi, đau vùng bụng trên, nôn ọe, đại tiện lỏng, gan to và khô, tĩnh mạch cửa nổi, sắc mặt tối, võng mạc vàng, nổi các nốt mẩn chằng chịt. Thời kỳ cuối bị xuất huyết tiêu hóa, hôn mê…
Về chế độ dinh dưỡng người bị xơ gan thời kỳ đầu có thể ăn uống những chất có độ đạm cao để vừa thúc đẩy tế bào gan tái sinh, bảo vệ gan lại vừa có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể và tăng cường khả năng chống bệnh. Nhưng thời kỳ cuối, nếu kèm thêm triệu chứng hôn mê thì phải giảm thức ăn có độ đạm cao mà ăn các thức ăn có đường là chính, đồng thời bổ sung lượng vitamin thích đáng. Không ăn các chất kích thích, chất cay nóng, thực phẩm đóng hộp có chứa phụ gia, thực phẩm ô nhiễm, dư lượng hóa chất bảo vệ…
Canh gà ngũ vị tử.
Sau đây xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ thịt gà dành cho người xơ gan báng bụng (cổ trướng) để bạn đọc tham khảo và áp dụng.
Đường đỏ, gạo lứt hấp gà vàng: Đường đỏ 150g, gạo lứt 150g, gà vàng 1 con (500-700g), gừng, hành, tỏi mỗi thứ 5g. Gà làm sạch, bỏ ruột, chân, gạo xay thành bột. Nhúng gà vào nước sôi cho hết máu rồi cho vào nồi hấp, cho gừng, hành, muối, đường đỏ trộn đều với bột gạo nhét vào bụng gà, đổ khỏang 300ml nước vào nồi rồi bắc lên bếp đun to lửa đến sôi thì hạ lửa đun sôi tiếp khỏang 1 giờ là được. Ăn ngày 1 lần khoảng 50g thịt gà, còn nước cháo ăn tùy ý. Tác dụng: bổ khí huyết, kiện gan tỳ, chống báng bụng.
Tam thất, uất kim hấp với gà đen: tam thất 6g, uất kim 9g, gà đen 1 con (500g), rượu 10g, gừng, hành, muối, tỏi. Tam thất thái nhỏ như hạt đậu; uất kim thái lát; gà làm sạch bỏ nội tạng, chân; tỏi bóc vỏ thái mỏng; hành cắt ngắn. Xát muối rượu lên con gà, cho tam thất, uất kim vào bụng gà, đặt vào nồi cho gừng, hành, đổ 300ml nước rồi đun trong 1 giờ là được. Ăn cả nước lẫn cái. Tác dụng bổ khí huyết, tan máu ứ, tiêu báng.
Canh đông trùng hạ thảo, sâm tây với thịt gà: sâm tây 20g, đông trùng hạ thảo 15g, gà con 1 con, gừng, hành, muối đều 5g. Sâm tây thái lát; đông trùng hạ thảo rửa sạch ngâm vào rượu; gà làm sạch bỏ nội tạng, chân; gừng đập lát; hành cắt ngắn. Cho sâm, trùng thảo vào bụng gà, cho gia vị và đổ 1000ml đem đun sôi khỏang 1 giờ. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần ăn 50g thịt gà; sâm, trùng thảo và canh ăn tùy ý. Tác dụng: bổ gan thận, dùng cho người xơ gan.
Canh ngũ vị tử với gà: ngũ vị tử 10g, thịt gà 200g, cần tây 200g, nấm 30g, rượu gạo 5ml, gừng, hành, muối, tỏi, dầu ăn đều 5g. Ngũ vị tử rửa sạch, thịt gà rửa sạch thái miếng, cần cắt khúc, nấm rửa sạch cắt bỏ cuống thái nhỏ, gừng đập lát. Hành tỏi bóc vỏ thái nhỏ, phi gừng hành tỏi với dầu cho thơm rồi đổ thịt gà vào đảo lên sau đó cho cần tây, nấm, ngũ vị tử, muối và 300ml nước vào đun sôi rồi hạ lửa đun khỏang 30 – 40 phút nữa là được. Ngày ăn 1 lần, mỗi lần 50g thịt gà, cần và nấm ăn tùy ý. Tác dụng: an thần,  bổ khí huyết, dùng cho người xơ gan kèm theo thần kinh suy nhược.
Người xơ gan cũng nên dùng một trong các thứ nước sau thay nước uống:
Trà ngũ vị tử táo đỏ.
Trà ngũ vị tử táo đỏ:
ngũ vị tử 10g, táo đỏ 5 quả, đường phèn 20g. Ngũ vị tử rửa sạch, táo đỏ bỏ vỏ, đường giã nhỏ.  Cho tất cả vào nồi cùng 300ml nước đun sôi khoảng 20 – 30 phút là được. Uống thay nước hằng ngày. Tác dụng: bổ dưỡng gan thận, ích khí, dùng cho người xơ gan, men gan tăng cao.
Chè ngũ vị tử, long nhãn và sâm tây: ngũ vị tử, sâm tây, long nhãn đều 5g, đường phèn 20g. Ngũ vị tử rửa sạch, sâm tây làm mềm rồi thát lát, đường giã nhỏ. Cho tất cả vào nồi  cùng 300ml nước đun chừng 20-30 phút là được. Uống thay nước hằng ngày. Công dụng: ích khí, dưỡng tâm, an thần, bổ ích gan thận. Dùng cho người xơ gan, mất ngủ, tự ra mồ hôi.

Chữa rụng tóc bằng... tinh trùng

Hàm lượng protein cao trong tinh trùng có thể khiến tóc phát triển khỏe mạnh hơn.
Con người đã thực hiện nhiều cách khác nhau để đối phó với chứng rụng tóc, nhưng thành công quả là điều khó khăn, không giống như những gì mà các mục quảng cáo dầu gội đầu hứa hẹn. Thế nhưng, có thể bạn vẫn muốn thử một phương pháp độc đáo này.
“Salon Hari” là một thẩm mỹ viện cao cấp ở London, Anh, có một phương pháp điều trị duy nhất và độc đáo để đối phó với chứng rụng tóc. Cụ thể, "Aberdeen Organic Hair " là phương pháp trong đó nhà sáng lập sử dụng một hỗn hợp bao gồm tinh dịch bò đực và chiết xuất rễ cây Katira.
Phương pháp điều trị này chỉ lấy của khách hàng 45 phút. Massage đầu sẽ được sử dụng loại dầu gội là hợp chất giàu protein trên. Theo Benjamin Ahrens, một trong những thợ uốn tóc ở tiệm, chủ tiệm, Hari Salem, đã thử hàng trăm sản phẩm trước khi sử dụng nguyên liệu tinh dịch bò để làm cho mái tóc của khách hàng luôn luôn bóng đẹp.
"Chúng tôi luôn cố gắng tìm kiếm một nguồn protein tinh khiết. Đó là bởi vì nếu điều trị tóc với các thành phần dưỡng chất giàu protein sẽ làm cho mái tóc khỏe và đẹp hơn. Sau đó, Hari đã tìm hiểu và gặp gỡ những người chăn nuôi bò trong các kỳ nghỉ ở nông thôn và kể cho họ nghe câu chuyện của mình ", Ahrens nói, theo trích dẫn từ trang stophairlossnow.co.uk.
Ahrens nói thêm: "Những người nông dân sau đó đã đề xuất sử dụng tinh trùng bò. Nghe có vẻ lạ nhưng rồi ông chủ tiệm tóc Hari đã thử... Chúng tôi cũng thử nghiệm trên một số khách hàng một cách bí mật và kết quả là rất khả quan. Cuối cùng, chúng tôi quyết định bán nguyên liệu này trực tiếp cho khách hàng bằng cách chăm sóc tóc cho họ bằng phương pháp độc đáo này."
Để thực hiện dược liệu trên, họ sử dụng rễ cây Katira có nguồn gốc từ Iran làm dược liệu kết hợp, trước đó, rễ cây này phải được ngâm trong 12 giờ rồi mới được sử dụng cho hỗn hợp. Mục đích của thao tác này là để làm cho nó thay đổi cấu tạo trở thành một dạng gel. Sau đó, bổ sung huyết thanh từ tinh trùng bò vào gel này. tinh trùng bò đực được đặt trong chai nhỏ này sau đó được cất trong trong tủ lạnh.
Dược liệu này lần đầu tiên được thử nghiệm trên khách hàng của họ đến từ Ba Lan, đó là chị Jola Bury. Chị thường gặp các rắc rối khi chải tóc. "Tôi chỉ hy vọng nó đỡ khô và bị hỏng. khi nào tôi sờ lên mái tóc tôi cũng thấy chúng rất khô. Tôi hy vọng loại thảo dược này làm cho số lượng tóc của tôi nhiều và mượt hơn ", Jola nói.
Mặc dù được làm từ rễ cây và tinh trùng bò, nhưng theo Ahrens, thảo mộc này hoàn toàn không có mùi khó ngửi. Hợp chất chứa nguồn protein phong phú này làm cho tóc phát triển mạnh hơn bởi vì loại thảo mộc này có thể ngấm vào chân tóc.
Phương pháp điều trị này cung cấp kết quả nhanh chóng và có thể nhìn thấy trực tiếp. Thế nhưng, để có được một mái tóc như ý, bạn phải trả khoảng 85 pound tức khoảng 2, 3 triệu đồng để được một gói chăm sóc đầy đủ.
 

Ăn chuối chữa trầm cảm, thiếu máu

Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh, chỉ cần ăn hai quả chuối là đủ năng lượng cung cấp cho 90 phút thể dục nghiêm túc.
Tuy nhiên, năng lượng không phải là phương cách duy nhất mà quả chuối có thể giúp giữ cơ thể khỏe khoắn. Chuối còn giúp chữa hoặc ngăn ngừa được nhiều chứng bệnh dưới đây:
 
Trầm cảm: Những người bị  chứng trầm cảm sau khi ăn một quả chuối thường cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Nguyên nhân là trong chuối có chứa chất triptophan, một chất protein mà cơ thể chuyển thành Serotonin, được coi như chất làm thư giãn, cải hóa tình trạng bị kích động của con bệnh, khiến cảm thấy hưng phấn hơn. Hãy loại thuốc qua một bên và ăn một quả chuối. Vitamin B6 có trong tất cả trái chuối điều hoà sự quân bình của đường trong máu làm giảm đi tình trạng căng thẳng của bạn.
Thiếu máu: Do nhiều chất sắt nên chuối có thể kích thích gia tăng emoglobin trong máu giúp cho những trường hợp thiếu máu.

Áp lực động mạch: Trái cây nhiệt đới duy nhất này có lượng chất kali cao, tuy nhiên lại thấp muối khoáng nên rất tốt để chống lại áp lực động mạch (cao huyết áp) và có thể giúp tập luyện để cho đồng tử của mắt nhanh nhạy hơn.
 
Táo bón: Thêm chuối vào thực phẩm hằng ngày có thể giúp đại tiện điều hoà mà không cần tới thuốc nhuận tràng.
 
Các chứng loét: Chuối dùng trong chế độ ăn kiêng để chiến đấu với các vấn đề về đường ruột, có thể ăn mà không gây trở ngại gì cho các chứng này. Nó lại còn bảo vệ dạ dày bằng cách trung hoà chứng tăng dịch vị và làm giảm đau.
Dạ dày đầy hơi: Chuối chứa chất giả hóa axit tự nhiên, vì thế nếu bạn cảm thấy dạ dày đầy hơi, hãy ăn 1 quả chuối để giảm nóng trong dạ dày.
Lợm giọng: Giữa 2 bữa ăn trong ngày, nên ăn 1 quả chuối coi như bữa  ăn nhẹ để giúp ổn định lượng đường trong máu và cũng tránh bị lợm giọng.
Bị muỗi vằn đốt: Thái một lát chuối chín mỏng dán áp lên chỗ muỗi đốt, sẽ làm giảm sưng và đỡ ngứa.
Thần kinh kích động: Do có  hàm lượng vitamin B cao, chuối giúp làm dịu thần kinh. Nhiều cuộc thực nghiệm cho thấy, chuối là trái cây có  thể làm dịu mát, hạ nhiệt cơ thể dễ  xúc cảm của phụ nữ mang thai.
Căng thẳng thần kinh: Kali là  chất khoáng trọng yếu giúp bình thường hoá nhịp  đập của mạch, bơm oxy lên não bộ và điều chỉnh việc trữ nước. Khi bị căng thẳng thần kinh, sự chuyển hoá gia tăng, làm giảm đi lượng kali. Trường hợp này có thể cân bằng được nhờ một bữa ăn nhẹ có nhiều kali như một quả chuối.

Nước mía trị táo bón, viêm họng

Ngoài chứng táo bón, bạn có thể dùng mía để cải thiện chứng viêm họng, nôn do nghén, viêm dạ dày...
Mía là loại cây giàu vitamin B1, B2, B6, sắt, canxi, phôt pho… cùng nhiều chất hữu cơ khác. Theo Đông y, mía có vị ngọt, tính mát, không độc, có tác dụng nhuận táo, thanh nhiệt, giáng khí, sinh tân dịch. Ngoài ra, mía còn có nhiều loại đường có tác dụng ức chế khối u ác tính.
Viêm amindan, viêm họng cấp và mãn tính: Mía, củ cải trắng lượng đủ dùng, rửa sạch ép lấy nước (mía khoảng 10 ml, củ cải trắng 20 ml) cho thêm nước, uống ngày ba lần. Dùng liên tục 3 - 5 ngày. Hoặc mía, rễ cỏ tranh, củ năng lượng đủ dùng, nấu kỹ lấy nước uống thay trà.
Sốt cao mất nước, miệng khô: Nước ép của mía ngày uống ba lần, mỗi lần một cốc.
Miệng khô, nôn mửa, viêm họng, ho, người già sau sốt khô nóng: Nấu cháo gạo nếp, khi chín thì cho nước mía vào ăn cùng.
Viêm dạ dày mạn tính: Nước mía, rượu vang mỗi thứ một cốc, trộn đều, ngày uống hai lần vào buổi sáng và tối.
Viêm niệu đạo, tiểu buốt: Lấy nước mía, ngó sen tươi mỗi thứ 60 gr, ngày uống hai lần.
Đại tiện táo bón: Mía ép lấy nước, mật ong mỗi thứ một cốc trộn đều. Uống ngày hai lần vào sáng và tối khi đói bụng.
Viêm da: Vỏ mía tím đốt thành tro, nghiền mịn trộn với dầu mè (dầu vừng) bôi lên chỗ tổn thương.
Nôn mửa do thai nghén: Lấy một cốc nước mía trộn với một ít nước gừng tươi. Ngày uống một lần.
Phù nhẹ do thai nghén: Lấy 500 gr mía nấu nước uống nhiều lần trong ngày thay trà.

Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010

Đông y chữa bệnh quai bị

Trong Đông y, bệnh quai bị còn gọi là “hà ôn mô” là một bệnh độc ôn dịch, lưu hành ở vụ đông xuân, hay gặp ở trẻ 5-10 tuổi, cũng phát bệnh ở cả người lớn. Bệnh mang tính dịch tễ, truyền nhiễm. Bệnh được giới thiệu cả trong nhi khoa và ngoại khoa.
Theo Đông y bệnh quai bị là do độc ôn dịch xâm nhập phế vệ qua đường mũi họng phạm tới hai kinh thiếu dương đởm và dương minh vị. Kinh thiếu dương phụ trách khí phong mộc, kinh dương minh phụ trách táo kim. Tà phong nhiệt xâm phạm vào hai kinh này gây uất kết ở vùng dưới tai, dưới hàm và má. Hai là do can và đởm có mối liên quan biểu lý, khi kinh đởm bị tổn thương làm kinh can cũng bị ảnh hưởng mà gây ra. Người bệnh có biểu hiện sốt hoặc sốt nhẹ, sợ lạnh, sưng cứng dưới tai và vùng dưới hàm, ấn vào đau, thường sưng một bên dần dần sưng cả hai bên. Nếu cảm nhiễm ôn độc mạnh: Sốt cao, khát, sưng vùng dưới tai, má bạnh, đau, rêu lưỡi vàng. Mạch sác.
Phương pháp điều trị:
+ Trường hợp ôn độc nhẹ: Sơ tán phong tà hoạt huyết.
+ Trường hợp ôn độc mạnh: Thanh hoả giải độc tuyên tiết phong nhiệt.
Tùy trường hợp cụ thể mà dùng bài thuốc thích hợp.
Trường hợp ôn độc nhẹ: Dùng bài Liên kiều bại độc tán: Khương hoạt 8g, phòng phong 6g, cát cánh 8g, liên kiều 6g , hồng hoa 4g , độc hoạt 8g, sài hồ 8g, cam thảo 4g, ngưu bàng tử 8g , tô mộc 6g, kinh giới 4g, thăng ma 6g, xuyên khung 4g, đương quy vĩ 8g, thiên hoa phấn 12g. Các vị trên sắc với 1.400ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 200ml. Uống ấm chia đều 6 lần, ngày uống 5 lần, tối uống 1 lần. Chú ý: Trẻ nhỏ tuỳ tuổi mà có liều thuốc thích hợp.
Trường hợp ôn độc nặng: Dùng bài Phổ tễ tiêu độc ẩm: Hoàng cầm 12g, hoàng liên 6g, cam thảo 4g, huyền sâm 16g, liên kiều 8g, bản lam căn 8g, ngưu bàng tử 16g, bạc hà tươi 16g, bạch cương tàm 12g, cát cánh 10g, thăng ma 10g, sài hồ 12g, trần bì 6g. Bạch cương tàm sao, bản lam căn tán bột mịn. Các vị trên (trừ bản lam căn) + 1.800ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 250ml, sau đó cho bản lam căn vào đun sôi quấy đều. Uống chia đều 6 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 2 lần.
Chú ý: Hà mô ôn là bệnh độc ôn dịch bệnh mang tính chất truyền nhiễm lan tràn. Nên khi phát hiện được bệnh phải cách ly để tránh lây cho người lành. Bệnh lây bằng đường phế khí, ẩm thực. Nếu bệnh nhẹ tự khỏi trong 2 tuần. Nếu bệnh tiến triển nặng tùy chứng trạng mà cho bài thuốc phù hợp.
TTND.BS. Trần Văn Bản
Phó chủ tịch Trung ương hội Đông y Việt Nam

Bệnh viêm màng não mủ

Viêm màng não mủ là bệnh nhiễm khuẩn màng não do vi khuẩn gây nên. Các vi khuẩn gây bệnh thường gặp là: Hemophilus influenza, não mô cầu và phế cầu. Ở trẻ sơ sinh có thể gặp các vi khuẩn gram âm gây bệnh như E.coli, Klebsiella, Pseudomonas.
Ở Việt Nam, tỉ lệ tử vong khi mắc bệnh viêm màng não mủ từ 10-30%. Có khoảng từ 2 – 8% trẻ em lành mang vi khuẩn não mô cầu ở đường hô hấp trên như ở họng, mũi, hầu. Trẻ sơ sinh có thể mắc bệnh viêm màng não mủ nếu trong thời gian mang thai, người mẹ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu viêm âm đạo, âm hộ… Bệnh viêm màng não mủ do loại vi khuẩn Streptoccus suis có trong thịt lợn, gây bệnh cho con người. Nghiên cứu của Sở Y tế Hà Nội, vi khuẩn này đột nhập vào máu gây viêm màng não mủ hoặc nhiễm khuẩn huyết, bệnh gặp nhiều ở trẻ nhỏ, người trên 60 tuổi, đặc biệt những người bị suy giảm miễn dịch, người bị cắt lách, suy thận, bệnh tim phổi mạn tính, đái tháo đường, nghiện rượu, xơ gan, chấn thương sọ não… Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là tiêm phòng vaccin, với hiệu lực  lên đến 90%. Theo ThS. Nguyễn Văn Lâm thì trẻ bị viêm màng não mủ nếu được phát hiện và điều trị sớm, tỷ lệ khỏi tới 94%, số ca có di chứng chỉ còn 6%. Nếu bệnh nhân đến muộn (sau 3 ngày phát bệnh), tỷ lệ khỏi bệnh giảm xuống còn 72% và tỷ lệ di chứng, tử vong lên tới 28%.
Dấu hiệu “cổ mềm”, co giật
Một bệnh nhân mắc bệnh viêm màng não mủ có thể thấy xuất hiện các triệu chứng như: sốt là biểu hiện hay gặp. Hội chứng màng não, nếu điển hình sẽ gồm các triệu chứng: đau đầu, nôn vọt, tiêu chảy (có khi táo bón). Khám sẽ thấy có dấu hiệu cứng gáy, dấu hiệu Kerning dương tính và thóp phồng. Ở bệnh nhi dưới 1 tuổi thì bệnh thường xảy ra đột ngột với các biểu hiện bỏ bú, khóc thét, ngủ li bì, dấu hiệu “cổ mềm”. Ở trẻ sơ sinh thì thấy biểu hiện bỏ bú, li bì, có thể co giật, suy hô hấp, nhiễm khuẩn huyết. Vì vậy đối với trẻ sơ sinh cần nghĩ đến viêm màng não mủ khi có các triệu chứng sốt, bú kém, nôn nhưng không rõ nguyên nhân, đặc biệt khi có các dấu hiệu nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết.
Xét nghiệm công thức máu thấy bạch cầu tăng cao, trong đó bạch cầu trung tính chiếm ưu thế. Dịch não tuỷ thường thấy áp lực tăng, nước đục dạng ám khói, hoặc đục như mủ. Số lượng bạch cầu trên 500/ml, trong đó bạch cầu trung tính chiếm ưu thế. Protein tăng trên 1g/l, glucose giảm dưới 2,2mmol lít. Tuy nhiên nếu bệnh nhân đến khám trong những giờ đầu hoặc đã điều trị kháng sinh thì dịch não tuỷ có thể thay đổi không điển hình. Không nên chọc dịch não tuỷ khi có nhiễm khuẩn lan toả tại vị trí chọc, hoặc có biểu hiện tăng áp lực nội sọ. Chẩn đoán căn nguyên phải dựa vào kết quả nhuộm soi vi khuẩn trên kính hiển vi và cấy dịch não tuỷ.
Bệnh cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác như: viêm màng não hoặc viêm não do virut, dựa vào dịch não tuỷ trong, số lượng bạch cầu thường dưới 500/ml trong đó bạch cầu lympho chiếm ưu thế, protein tăng dưới 1g/l. Bệnh viêm màng não do lao thì bệnh nhân có tiếp xúc nguồn lao; chụp phim Xquang phổi thấy có tổn thương lao; dịch não tuỷ trong hoặc màu vàng chanh, tế bào từ 300 – 500/ml, protein trên 1g/l. Nếu sau 14 ngày điều trị kháng sinh thông thường (không phải kháng sinh chống lao ) không hiệu quả cần xem xét có viêm màng não do lao hay không.
Tổn thương viêm màng não do phế cầu.
Các phương pháp điều trị viêm màng não mủ
Trong thời gian chưa có kết quả nhuộm soi trên kính hiển vi kính và cấy dịch não tuỷ, nên dùng liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm:  đối với trẻ từ 0 – 4 tuần thì dùng ampixillin phối hợp với aminoglycoside hoặc claforan. Trẻ từ 4 – 12 tuần nên dùng cephalosporin thế hệ thứ 3. Trẻ từ 3 tháng – 18 tuổi sử dụng thuốc cmpixilin phối hợp với chloramphenicol hoặc cephalosporin thế hệ thứ 3. Việc lựa chọn thuốc  cephalosporin thế hệ thứ 3 có thể dùng: claforan, rocephin, fortum… khi bệnh nhân có dấu hiệu nặng như hôn mê, co giật nhiều, vào viện sau 3 ngày bị bệnh, đã điều trị nhiều kháng sinh và có bệnh toàn thân. Khi có kết quả nhuộm soi trên kính hiển vi thì cần điều chỉnh kháng sinh cho phù hợp với từng loại vi khuẩn. Khi đã có kết quả cấy dịch não tuỷ thì thay đổi kháng sinh theo kháng sinh đồ. Tuy nhiên nếu sau 48 – 72 giờ điều trị mà các triệu chứng lâm sàng không cải thiện thì cần phải xét nghiệm lại dịch não tuỷ để quyết định thay đổi kháng sinh điều trị thích hợp hơn.
Thời gian điều trị trung bình đối với não mô cầu là 7 ngày; đối với vi khuẩn  H.influenzae từ 7 – 10 ngày; phế cầu từ 10 – 14 ngày; trực khuẩn ái khí gram âm phải kéo dài thời gian điều trị tới 3 tuần. Trên thực tế thời gian điều trị có thể thay đổi theo mức độ thuyên giảm của bệnh.
Thuốc điều trị kết hợp có thể dùng là thuốc chống viêm, thuốc chống phù não, thuốc phòng co giật. Chú ý chế độ chăm sóc và dinh dưỡng: nếu bệnh nhân có hôn mê nên để nằm nghiêng một bên tránh ứ đọng đờm dãi và cho ăn qua sonde. Cho bệnh nhân xuất viện khi đã điều trị kháng sinh đủ thời gian và bệnh nhân hết sốt ít nhất 3 ngày trở lên.
Theo SKDS

Biến chứng thần kinh của bệnh đái tháo đường

Một trong những biến chứng gây nguy hiểm cũng như làm khó chịu cho bệnh nhân (BN) đái tháo đường (ĐTĐ) đó là biến chứng thần kinh (TK). Biến chứng TK ở bệnh ĐTĐ có thể xảy ra ở TK tự chủ (TKTC) và TK ngoại biên (TKNB). Do cùng cơ chế tổn thương nên hai loại tổn thương TKTC và TKNB thường gặp như nhau.
Tổn thương TKTC
TKTC là gì? TKTC là TK chi phối mọi cơ quan, nội tạng trong cơ thể, nó bao gồm hệ TK giao cảm và đối giao cảm. Mọi cơ quan đều có hệ thống này.
Khi có biến chứng TKTC thì có những biểu hiện gì? Do các bộ phận trong cơ thể đều được chi phối bởi hệ TKTC nên khi tổn thương TKTC ở cơ quan nào thì biểu lộ ở cơ quan đó. Một số rối loạn có thể gặp như: rối loạn đồng tử làm đồng tử BN không điều chỉnh được khi từ chỗ sáng vào chỗ tối hay ngược lại. Rối loạn bài tiết mồ hôi: nửa thân dưới khô trong khi nửa thân trên ra mồ hôi nhiều hơn. Hệ tiêu hóa: đầy bụng, chậm tiêu, dễ nôn, tiêu chảy… Hệ tiết niệu sinh dục như bàng quang TK hay bất lực ở nam giới. Hệ tim mạch: nhịp tim nhanh liên tục, nhồi máu cơ tim không đau hay thiếu máu cơ tim im lặng, tụt huyết áp tư thế đứng… Mất cảm nhận triệu chứng hạ đường huyết.
Khám dấu hiệu TK cho BN ĐTĐ.
Khi có biến chứng TKTC biểu lộ ở các cơ quan, có nghĩa là các biến chứng đã lan tỏa nhiều nơi.
Làm thế nào để phát hiện sớm biến chứng TKTC? Do tổn thương TKTC thường biểu lộ sớm ở hệ tim mạch, do đó người ta thường phát hiện sớm biến chứng TKTC ở hệ tim mạch bằng các nghiệm pháp phức tạp chỉ thực hiện trong bệnh viện.
Biến chứng TKNB
Làm thế nào để biết có biến chứng TKNB? Chẩn đoán chính xác dựa vào đo vận tốc dẫn truyền TK hay sinh thiết TK. Trên thực tế dựa vào triệu chứng nhức mỏi, giảm phản xạ gân xương, giảm tiếp nhận âm thoa, giảm tiếp nhận với thăm khám bằng dụng cụ Monofilament là đủ.
Khi có biến chứng TKNB có thể có những biểu lộ nào? Tùy BN có thể biểu lộ đơn TK hay đa TK hoặc cả hai. Bệnh đơn TK tương đối hiếm:
- Tổn thương TK sọ III, IV, VI, VII: có thể biểu lộ các triệu chứng như mắt lé, nhìn đôi, hay sụp mi.
- TK ở tay, ở chân làm BN có triệu chứng bàn tay rớt, bàn chân rớt( không mang được dép).
Bệnh đa TK như: tê, mỏi, dị cảm, đôi khi đau nhức cấp tính teo cơ hoặc mất cảm giác ở hai chi đối xứng: thường gặp hơn ở hai chi dưới. Một số trường hợp gặp ở hai chi dưới và hai bàn tay. Hiếm hơn ở hai chi dưới và hai cánh tay.
Biến chứng TKNB ở bệnh ĐTĐ có thường gặp không? Bệnh ĐTĐ càng lâu năm càng dễ có biến chứng TK. Đau nhức là triệu chứng hay than phiền ở BN ĐTĐ. Nhức mỏi là triệu chứng thường gặp trong biến chứng TK ở bệnh ĐTĐ. Ngoại trừ bệnh ác tính, chúng ta cần chú ý tìm những nguyên nhân khác.
Chăm sóc điều trị
Đối với đau nhức do bệnh TK ĐTĐ phải xử trí ra sao? Khi đau với tăng cảm giác: có thể do bệnh lý đơn TK, thường không có điều trị hiệu quả và chuyên biệt. Kiểm soát tốt đường huyết có thể làm giảm triệu chứng.
Đau mạn tính: có thể thoa kem ớt (có chất capsaicin), dùng amitryptyline hoặc thuốc giảm đau tùy tình trạng BN và sự quyết định của bác sĩ.
Khi mất cảm giác phải làm gì? Khi mất cảm giác thường không có điều trị chuyên biệt. Cần chú ý tránh sang chấn nhiều lần, bỏng, chấn thương xương khớp hay loét.
Đối với vận động yếu phải làm gì? Khi vận động yếu thường đưa đến yếu cơ và teo cơ, do đó vật lý trị liệu là cần thiết để phục hồi chức năng vận động.
Chăm sóc BN có biến chứng TKTC
Cần làm gì khi có tụt huyết áp tư thế? Khi có tụt áp huyết tư thế, BN có thể xây xẩm hay chóng mặt khi đứng dậy. Các phương pháp chống đỡ bao gồm: di chuyển chậm từ nằm sang ngồi. Có thể sử dụng thêm muối, fludrocortisone tùy thuộc vào sự đánh giá của bác sĩ.
Cần làm gì khi có bàng quang TK? Khi có biến chứng bàng quang TK, bàng quang luôn ứ đọng nước tiểu, hay tiểu không hết. Cần chú ý nhiễm trùng tiểu, cần làm các xét nghiệm nước tiểu. Nên ép bằng tay hay thông tiểu mở ra 3 – 6 giờ mỗi ngày, vật lý trị liệu.
Cần làm gì khi đi tiêu không kiểm soát được? Có thể do nhiều nguyên nhân. Nên đến khám tại bác sĩ chuyên khoa (nội tiết, tiêu hóa) để được chẩn đoán và điều trị.
Cần cảnh giác gì với nhồi máu cơ tim không đau, thiếu máu cơ tim im lặng? Có thể xảy ra và gây đột tử. Để phát hiện cần phải làm điện tâm đồ ít nhất một năm một lần nếu bình thường. Các phương tiện chẩn đoán cao hơn như đo điện tâm đồ 24 giờ (Holter), nghiệm pháp gắng sức tùy theo tình trạng BN và sự đánh giá của thầy thuốc.
Cần làm gì để cảnh giác với hạ đường huyết không có triệu chứng báo rước?
Cần theo dõi chặt chẽ đường huyết và thử lại ngay khi nghi ngờ.
Theo SKDS

Bệnh lậu: Cách phòng và điều trị

Bệnh lậu là một trong năm bệnh hoa liễu cổ điển như giang mai, hạ cam mềm, hột xoài và u hạt bẹn, bệnh lây truyền qua đường tình dục, cấp tính hay mạn tính, do song cầu trùng gây nên, có tên khoa học là Neisseria Gonorrhoeae.
Bệnh lậu được biết từ lâu, được các thầy thuốc Hi Lạp quan niệm là bệnh của những người ăn chơi, chìm đắm trong lạc thú của thần vệ nữ. Năm 1300 người ta cho rằng bệnh lậu là bệnh đáy nóng (Chaude Pisse), trong đại chiến thứ nhất bệnh lậu thực sự bùng nổ trở thành đại dịch, đến đại chiến thứ hai và sự ra đời của Pénicilline bệnh lậu chính thức được ngăn chặn và giảm dần đến ngày hôm nay.
Năm 1897 bệnh được Neisser tìm ra, đó là vi khuẩn có hình hạt cà phê xếp thành từng cặp nên còn gọi là song cầu, có chiều dài 1,6cm, rộng 0,8cm, trên kính hiển vi, vi khuẩn bắt màu Gram âm. Lậu cầu rất yếu khi ra ngoài cơ thể, và chết nhanh ở nhiệt độ thường, ngược lại lậu cầu sống rất mãnh liệt ở môi trường ẩm của cơ thể, cho nên giao hợp vẫn là cách lây bệnh chủ yếu. Tuy nhiên, lậu cầu cũng có thể lây qua vật dụng dùng chung.
Cơ thể học và sinh lý bệnh
Cơ thể học nam giới: niệu đạo của nam giới tương đối dài hơn nữ giới, vì vậy bệnh lậu ở nam giới biểu hiện rầm rộ hơn, niệu đạo chia làm 2 phần gồm niệu đạo trước và niệu đạo sau, được ngăn cách bởi cơ thắt niệu đạo, có chiều dài từ 14 – 16cm.
Niệu đạo trước có nhiều hang, nhiều ngõ ngách đó là nơi trú ẩn của lậu cầu.
Niệu đạo sau càng phức tạp hơn cũng có nhiều ngóc ngách, xuyên qua tuyến tiền liệt, thông với túi tinh, ống dẫn tinh, mao tinh và tinh hoàn.
Ngoài ra, còn có tuyến Morgagni và tuyến Littre cũng thuận lợi cho lậu cầu sinh sôi và phát triển.
Cơ thể học nữ giới: niệu đạo của nữ giới tương đối ngắn so với nam giới, khoảng 3cm, vì vậy bệnh lậu ít rầm rộ hơn, có nnhiều tuyến quanh niệu đạo là nơi ẩn náu của vi khuẩn như tuyến Skene, tuyến Bartholine ở 1/3 trước của môi lớn và môi bé.
Sau khi lậu cầu xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, vi khuẩn có khuynh hướng ưa thích tế bào mô bì trụ ở niệu mạc đường tiết niệu, đưa đến phản ứng viêm tại chỗ, kéo theo bạch cầu đa nhiễm đến để thực bào, từ đó trở thành tổ chức hoại tử trong quá trình viêm, được thoát ra ngoài theo nước tiểu, màu trắng hơi vàng gọi là tiểu ra mủ, vi khuẩn tiếp tục phát triển và đi dọc theo chiều dài của niệu đạo, đi đến đâu gây viêm đến đó gây viêm tiền liệt tuyến, viêm túi tinh, viêm tinh hoàn ở nam giới, viêm ống dẫn trứng, buồng trứng ở nữ giới.
Triệu chứng lâm sàng
Về triệu chứng lâm sàng lậu ở nam và nữ có khác nhau, do niệu đạo của nam giới dài gấp 5 lần, giai đoạn cấp tính lậu ở nam giới có tính chất rầm rộ, còn ở nữ thì âm thầm dễ bỏ qua, vì thế là nguồn lây nhiễm rất đáng quan tâm. Thời gian nung bệnh trung bình 3 – 5 ngày, nhưng có thể kéo dài 2 – 3 tuần, thời gian nung bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng và thời gian càng dài bệnh nhẹ hơn.
Lậu ở nam:
Giai đoạn cấp tính:
Sau thời gian ủ bệnh, bệnh nhân thấy hơi ngứa, nhồn nhột ở đường tiểu, sau vài giờ thì tiết ra chất dịch trong, sau đó đục dần rồi thành mủ, màu vàng hơi trắng. Tiếp theo đó, hai mép miệng sáo đỏ, sưng nề, khi đi tiểu bệnh nhân có cảm giác tiểu nóng rát, tiểu gắt, tiểu bốt, đau như dao cắt, mủ chảy ngày càng nhiều, trường hợp nặng có thể tiểu ra máu.
Toàn thân giai đoạn này bệnh nhân có thể sốt nhẹ, mệt mỏi, đau mình mẩy.
Giai đoạn mạn tính:
Ở giai đoạn cấp tính nếu không được điều trị hoặc điều trị không hiệu quả, triệu chứng trên cũng giảm dần, nhưng vi khuẩn vẫn còn và chuyển sang giai đoạn mạn tính, vi khuẩn từ niệu đạo trước, xâm nhập sâu dần đến các tuyến và niệu dạo sau, để tiếp tục sinh sôi và phát triển, các triệu chứng trên sẽ mất dần chỉ còn lại là tiểu ra giọt đục buổi sáng, và tăng lên khi lao động nặng, thức khuya, uống rượu bia…
Lậu ở nữ: Thời gian ủ bệnh thường rất khó xác định.
Giai đoạn cấp tính:
Triệu chứng thường âm thầm, không rõ như nam giới. Theo thống kê có khoảng 97% không có triệu chứng, chỉ có 3% còn lại mới có triệu chứng tiểu rát, tiểu buốt, khó chịu.
Giai đoạn mạn tính:
Không có triệu chứng gì đặc biệt, thường chỉ có huyết trắng, hoặc có những biểu hiện của biến chứng mà thôi.
Lậu ở trẻ sơ sinh
Trẻ bị viêm kết mạc mắt do tiếp xúc với dịch ở âm đạo của mẹ bị nhiễm lậu cầu lúc sanh, từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 21, mắt bé bị sưng phù, đỏ và có mủ vàng. Tình trạng này có thể phòng, bằng cách nhỏ mắt bằng Nitrat bạc lúc sanh. Ngoài ra lậu ở đường sinh dục nam và nữ, lậu còn gây bệnh ở các cơ quan khác như lậu ở tim, khớp, cổ họng, amidan, hậu môn, trực tràng…
Điều trị
Nguyên tắc điều trị: Lậu cầu cứ 15 phút phân chia một lần do đó lan nhanh. Vì vậy cần điều trị sớm.
Điều trị đúng thuốc – đủ liều.
Điều trị cả với người tiếp xúc sinh lý.
Điều trị cho nữ bao giờ cũng dùng thuốc và thời gian gấp đôi liều nam giới.
Chỉ được kết luận là khỏi bệnh khi cấy hai lần liên tiếp âm tính hoặc không còn tiết dịch niệu đạo với nghiệm pháp kích thích, (cho bệnh nhân lao động nặng, thức khuya, uống rượu bia. Sáng hôm sau lấy dịch xét nghiệm lúc bệnh nhân chưa đi tiểu).
Điều trị: có thể dùng một trong các thuốc sau:
Thuốc tiêm:
Spectionmycine (Trobicin, Kirin) 2gr đói với nam, 4gr đối với nữ tiêm bắp một liều duy nhất. Trường hợp bệnh mạn tính tiêm liên tiếp 2 ngày.
Ceftriaxime (Claforan) 1gr tiêm bắp duy nhất.
Ceftriaxone (Rocephine) 250mg tiêm bắp duy nhất.
Cefoxitine 250mg tiêm bắp liều duy nhất.
Thuốc uống:
Unasyn 375mg uống 6 viên liều duy nhất.
Azithromycin (Zithromax) 250mg X 4 viên uống liều duy nhất.
Tequin 200mg uống 2 viên (400mg) uống liều duy nhất.
Điều trị lậu ở trẻ sơ sinh: Ceftriaxone 50mg/kg thể trọng, tiêm bắp liều duy nhất, tối da không quá 125mg. Đồng thời bôi mắt bằng mỡ Tetracycline 1% cách mỗi giờ một lần/ngày đầu, sau đó 8 giờ 1 lần trong 10 ngày.
Riêng điều trị lậu đối với trẻ em, nếu trên 45kg thì điều trị như người lớn. Nếu dưới 45kg thì dùng ceftriaxone 125mg tiêm bắp liều duy nhất, hoạc spectionmycin 40mg/kg thể trọng tiêm bắp liều duy nhất.
Theo dõi điều trị: Nếu điều trị đúng thuốc, đủ liều thì triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu nhiều lần sẽ giảm nhanh sau 24 – 48 giờ, riêng tiểu ra mủ sẽ hết chậm hơn sau 48 – 72 giờ. Các triệu chứng chung sẽ biến mất hoàn toàn sau 5 – 7 ngày.
Phòng bệnh
Cho đến nay phương pháp dùng bao cao su được xem như là phương tiện duy nhất để phòng bệnh lậu, tuy nhiên đó chưa phải là phương pháp đảm bảo tuyệt đối.
Theo BS.CKI Trần Quốc Long

BỆNH VIÊM GAN B

1. SIÊU VI VIÊM GAN B - TỔNG QUAN:
Siêu vi viêm gan B (SVVG B) là một loại virut hướng gan, gây ra bệnh viêm gan. Theo ước tính của Tổ chức Y Tế Thế Giới, hiện có khoảng 350 triệu người mang siêu vi B, tập trung chủ yếu ở châu Phi, châu Á và Ðông Nam Á.
Cách lây nhiễm siêu vi viêm gan B
SVVG B lưu hành trong máu, do đó lây truyền chủ yếu qua đường máu. Một số đường lây nhiễm quan trọng là:
1. Mẹ truyền sang con: Ðây là đường lây quan trọng nhất.
2. Ðường tình dục: Bệnh viêm gan B có thể lây qua hoạt động tình dục cùng giới hoặc khác giới.
3. Truyền máu hoặc chế phẩm máu nhiễm siêu vi B, tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân viêm gan B.
4. Dùng chung kim tiêm có nhiễm siêu vi B.
5. Các nguyên nhân khác: Xăm người, châm cứu, xỏ lỗ tai với vật dụng không được tẩy trùng tốt có thể lây truyền siêu vi B.
2. DIỄN TIẾN TỰ NHIÊN BỆNH VIÊM GAN B
1. Nhiễm trùng cấp tính
Nhiễm SVVG B cấp tính có biểu hiện giống cảm cúm, thỉnh thoảng có cảm giác buồn nôn, ói mửa. Ðôi khi, nhiễm trùng cấp có thể nặng hơn với triệu chứng vàng da, vàng mắt, đau bụng, nước tiểu sẫm màu.
2. Nhiễm trùng mạn tính
90% trường hợp nhiễm SVVG B ở tuổi trưởng thành sẽ hồi phục hoàn toàn và không bao giờ bị siêu vi quấy rầy lại. Chỉ có 10% chuyển thành "người mang trùng mạn tính".
Tuy nhiên, ở trẻ nhiễm siêu vi B từ lúc mới sinh, bệnh diễn biến khác hẳn. Khoảng 90% số trẻ này sẽ trở thành người mang bệnh mạn tính. Giai đoạn này kéo dài nhiều năm, có thể không có biểu hiện lâm sàng, cuối cùng dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như xơ gan, có nước trong ổ bụng, chảy máu đường tiêu hóa do vỡ mạch máu bị giãn, ung thư gan.
Nói chung, khi bệnh đã tiến triển đến giai đoạn xơ gan, chức năng gan khó có thể hồi phục, ngay cả khi tình trạng viêm gan được cải thiện. Vì vậy, các thầy thuốc thường điều trị bệnh sớm nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình xơ gan.
HÌNH 1: SƠ ÐỒ NHIỄM SIÊU VI VIÊM GAN B


3. CHẨN ÐOÁN VIÊM GAN SIÊU VI B
3.1. XÉT NGHIỆM MÁU
Bệnh viêm gan B có thể chẩn đoán bằng xét nghiệm máu tại bệnh viện hoặc phòng khám bệnh. Cũng có thể tình cờ phát hiện bệnh tại Trung Tâm Truyền Máu-Huyết Học khi Bạn tới cho máu. Xét nghiệm HBsAg dương tính có thể do:
1. Nhiễm siêu vi B mạn tính tiến triển: Siêu vi đang nhân đôi, đang tăng sinh, gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan.
2. Nhiễm trùng đã qua: Một số người hiện tại không có viêm gan, nhưng đã tiếp xúc với SVVG B trong quá khứ, tạo ra đáp ứng miễn dịch và thải trừ hoàn toàn siêu vi B.
3. Người lành mang mầm bệnh: Ðó là những trường hợp không có bằng chứng viêm gan, nhưng cũng không đào thải hết siêu vi ra khỏi cơ thể. Họ mang siêu vi B trong người và có thể truyền sang người khác, mặc dù bản thân họ không có biểu hiện bệnh.
3.2. KHÁM CHUYÊN KHOA GAN
Nếu xét nghiệm máu HBsAg dương tính, bạn nên đến gặp Bác Sỹ có kinh nghiệm để được khám bệnh và phân tích kỹ hơn. Lúc này, cần xác định liệu có tình trạng viêm gan đang tiến triển hay không. Nếu có, cần làm thêm:
1. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan
2. Siêu âm gan: Phân tích cấu trúc của gan và các bộ phận xung quanh, tìm dấu hiệu xơ gan hoặc biểu hiện bất thường khác.
3. Nên làm thêm xét nghiệm sinh thiết gan, đồng thời tìm HBV DNA trong máu.

4. LỜI KHUYÊN CHẾ ÐỘ ĂN VÀ LỐI SỐNG
4.1. Chế độ ăn
Nếu Bạn là người lành mang mầm bệnh, Bạn nên hạn chế uống rượu. Người nghiện rượu mắc bệnh viêm gan B thường hay bị xơ gan hơn. Chế độ ăn bình thường là thích hợp với hầu hết trường hợp viêm gan siêu vi B. Khi có xơ gan, Bác Sỹ khuyên Bạn nên giảm muối trong chế độ ăn.
4.2. Lối sống
Người bị nhiễm SVVG B thường lo lắng về nguy cơ truyền bệnh sang những người xung quanh. Mối lo này hoàn toàn hợp lý bởi vì siêu vi B lây nhiễm qua tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của bệnh nhân, cũng như do quan hệ tình dục. Hiện nay, đã có vắc-xin chủng ngừa cho những người tiếp xúc với người mang mầm bệnh (bạn tình, trẻ em, cha mẹ, người chăm sóc.).
Dù sao, người mang mầm bệnh cần có biện pháp đề phòng thích hợp, ví dụ nếu Bạn bị đứt tay, hãy lau sạch máu bằng thuốc sát trùng. Nên sử dụng biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.
4.3. Ðiều trị
Tùy theo quyết định của Bác Sỹ, một số trường hợp cần điều trị sớm và tích cực. Mục đích điều trị nhằm:
(a) Loại trừ hoặc giảm thiểu tình trạng viêm gan, do đó ngăn ngừa, làm chậm tiến triển sang giai đoạn xơ gan, ung thư gan.
(b) Ðào thải toàn bộ, hoặc một phần lượng siêu vi B trong cơ thể, đặc biệt ở trong gan.
5. ÐIỀU TRỊ ÐẶC HIỆU:
Thuốc điều trị chủ yếu là Interferon alpha
Interferon alpha là một chất tự nhiên có trong cơ thể người, được sản xuất bởi một số tế bào khi cơ thể nhiễm virut. Chức năng của Interferon alpha là diệt trừ tác nhân gây bệnh. Như vậy, khi dùng Interferon, siêu vi B sẽ bị loại bỏ giống như cơ chế đào thải tự nhiên của cơ thể.
Interferon alpha (RoferonỊ-A) được đóng sẵn trong bơm tiêm có kèm kim nhỏ, tiêm dưới da hoặc bắp thịt. Khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân đều có cảm giác sốt nhẹ, mệt mỏi trong vài giơ,?ọi là hội chứng giả cúm. Những biểu hiện này là do Interferon khởi động đáp ứng của cơ thể chống lại siêu vi giống như khi Bạn mắc bệnh cúm vậy. Về sau, tác dụng phụ này sẽ bớt dần. Uống Paracetamol nửa tiếng trước khi tiêm thuốc sẽ hạn chế biểu hiện đó. Nên tiêm thuốc vào buổi tối để hôm sau Bạn có thể làm việc bình thường.
Trong thời gian điều trị, Bạn nên làm xét nghiệm máu để đánh giá đáp ứng. Sau khi kết thúc điều trị, cần tiếp tục theo dõi thêm 6 tháng nữa, bởi vì một số bệnh nhân có thể bị tái phát sau khi ngưng thuốc.
Một số thuốc kháng sinh chống siêu vi hiện đang được nghiên cứu phối hợp với Interferon alpha.